Hiểu về suy tĩnh mạch và bảo vệ tương lai đôi chân

Tác giả: David Nguyễn - Ngày đăng: 19/10/2020
  1. Mục lục (Ẩn/Hiện)
  2. Sự kì diệu của hệ tĩnh mạch chân
  3. Cơ chế bệnh sinh của bệnh suy tĩnh mạch
  4. Hiểu suy tinh mạch ngay từ bây giờ
  5. Điều trị từ sớm cho người suy tĩnh mạch

Bệnh suy tĩnh mạch (CVD) là một trong những bệnh phổ biến nhất trên hệ thống tĩnh mạch, xuất hiện với tỉ lệ cao trong dân số trưởng thành: 10% - 33% ở nữ giới và 10% - 20% ở nam giới. Cứ 10 người đến phòng khám thì có khoảng 8 người mắc suy tĩnh mạch. Đáng ngại hơn là khoảng 78% bệnh nhân có triệu chứng nhưng không được điều trị.

Suy giãn tĩnh mạch đang trở nên phổ biến trong dân số

Sự kì diệu của hệ tĩnh mạch chân

Theo giải phẫu học, hệ tĩnh mạch chân được chia làm

  • Hệ tĩnh mạch sâu: bao gồm 2 tĩnh mạch chày, 2 tĩnh mạch mác, 2 tĩnh mạch gan bàn chân, 1 tĩnh mạch khoeo, 1 tĩnh mạch đùi, 1 tĩnh mạch hông
  • Hệ tĩnh mạch nông: bao gồm tĩnh mạch hiển lớn và tĩnh mạch hiển bé
  • Hệ tĩnh mạch xuyên: là những tĩnh mạch nhỏ, giúp đưa máu đi một chiều từ nông đến sâu

Hệ thống tĩnh mạch chi dưới

Với hệ thống tĩnh mạch chi dưới chằng chịt như vậy, đây thực sự là một bể chứa máu với 65% lượng máu trong người, nhưng điều kì diệu hơn là máu lưu thông trong tĩnh mạch chi dưới luôn được đảm bảo chỉ di chuyển theo một chiều:

  • Từ dưới lên trên
  • Từ nông vào sâu 

Điều này đảm bảo máu luôn được đưa trở lại tim sau khi đã làm xong nhiệm vụ trao đổi chất, mặc dù trọng lực không phải là nhỏ. Có được chức năng như vậy là nhờ:

  • Lực đẩy máu về tim: sự vận động của gan bàn chân khi di chuyển sẽ tạo ra lực thúc đẩy máu lưu thông tốt hơn; tác động của bơm cơ xương với khả năng co bóp thư giãn liên tục của bó cơ xung quanh tĩnh mạch giúp tạo ra lực đẩy; sự co bóp của động mạch kế cận; một phần lực đẩy do tim bơm máu cũng giúp tạo ra lực đưa máu trở về.
  • Lực hút máu về tim với sự trợ giúp của bơm hô hấp: động tác hít vào-thở ra tạo sự chênh lệch áp suất liên tục giữa phần trên và dưới của cơ thể, làm máu luôn di chuyển lên cao.
  • Trương lực tĩnh mạch: sự co tĩnh mạch đẩy máu trở về tim. Trương lực này tăng mạnh khi vận động thể lực, hít thở sâu.
  • Quan trọng nhất là hệ van của tĩnh mạch, được tạo ra bởi các nếp gấp tế bào nội mô, các van này đặc biệt phát triển mạnh ở chi dưới.

Cơ chế bệnh sinh của bệnh suy tĩnh mạch

Có thể hiểu sự hồi lưu máu trong hệ tĩnh mạch chi dưới được đảm bảo bởi những yếu tố đã kể trên đây, và bệnh suy tĩnh mạch là do sự suy yếu các yếu tố đó, quan trọng nhất là sự suy yếu của chức năng van tĩnh mạch (do viêm, do huyết khối,thoái hóa do tuổi tác), khiến cho máu luôn trong tình trạng Ứ TRỆTRÀO NGƯỢC.

Sự ứ trệ tại các tĩnh mạch lớn cũng gây áp lực lên các tĩnh mạch nhỏ và mao mạch, bạch huyết. Đây là tình trạng giãn tĩnh mạch dạng mạng nhện, gây phù và thay đổi sắc tố da ở chân.

Người suy tĩnh mạch có hệ thống van bị suy yếu

Hiểu suy tinh mạch ngay từ bây giờ

Bệnh nhân hoàn toàn có thể tự tầm soát bệnh suy tĩnh mạch của mình ngay từ lúc này, thông qua cuộc sống hằng ngày, thông qua các cảm giác chủ quan mà bản thân thấy được, chứ không cần đợi đến lúc bộc lộ các triệu chứng rõ ràng.

Yếu tố nguy cơ: Những người làm các công việc mang tính chất đứng lâu ngồi nhiều (làm việc văn phòng, tài xế, giáo viên, dược sĩ nhà thuốc,…); giới tính nữ thường có tỉ lệ mắc cao hơn nam giới do khác biệt về nội tiết tố; phụ nữ thường xuyên mang giày cao gót; người có sở thích tắm nước nóng xông hơi; người có cân nặng quá chuẩn…

Một trong số các triệu chứng suy tĩnh mạch

Các triệu chứng cơ năng 

bệnh nhân tự cảm thấy đau vùng bắp chân, sưng chân quanh mắt cá, nặng chân, chuột rút về đêm, giày dép trở nên chật chội vào xế chiều, cảm giác ngứa tê bì như kiến bò. Những triệu chứng này xuất hiện khá sớm và tỉ lệ mắc cao, tuy nhiên khi nghỉ ngơi và gác chân lên cao, triệu chứng sẽ giảm.

Các triệu chứng thực thể

  1. Phù chân: dạng phù khi ấn vào thấy lõm, ban đầu ở bàn chân và mắt cá, sau đó lan rộng khắp bắp chân và cẳng chân. Triệu chứng này cũng giảm khi nghỉ ngơi.
  2. Dãn tĩnh mạch: tĩnh mạch trở nên ngoằn ngoèo

Giai đoạn biến chứng 

Nếu không phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh suy tĩnh mạch dễ dẫn đến các biến chứng:

  1. Tắc tĩnh mạch: do hình thành cục huyết khối, hậu quả có thể gây thuyên tắc phổi dẫn đến tử vong, còn về lâu dài có thể gây loét.
  2. Rối loạn biến dưỡng: các vết chàm, bạch biến, cứng bì.
  3. Loét chân: thường ở mắt cá chân, kèm theo rối loạn dưỡng da, phân bết với loét do tiểu đường (ở gót chân).

Dựa vào những triệu chứng bệnh nhân có thể tự nhân biết được, bệnh nhân hoàn toàn có thể tự phân loại mức độ bệnh của mình theo phân độ CEAP 1.

  • C0:  bệnh nhân cảm nhận được sự đau nhức, nhưng khi thăm khám thì không thấy bằng mắt thường.
  • C1: có sự dãn tiểu tĩnh mạch hay tĩnh mạch ngoằn ngoèo dạng lưới.
  • C2: Giãn tĩnh mạch rõ ràng
  • C3:kèm theo phù
  • C4: kèm theo biến đổi trên da.
  • C5:kèm theo loét nhưng đang lành
  • C6:loét không lành và trở nặng hơn.

Phân loại suy tĩnh mạch theo CEAP

Điều trị từ sớm cho người suy tĩnh mạch

Việc điều trị bệnh suy tĩnh mạch phải được bắt đầu càng sớm càng tốt, điều trị tại phân độ càng thấp, khả năng bảo vệ đôi chân càng cao, qua đó làm chậm diễn tiến dẫn tới biến chứng. Bệnh nhân nên thay đổi tư thế liên tục khi làm việc, đảm bảo lối sống hợp lý, nghỉ ngơi đầy đủ. Khi có triệu chứng nhẹ, bệnh nhân có thể dùng băng thun ép, đặc biết thuốc trợ tĩnh mạch có thể dùng ở bất cứ phân độ nào của bệnh vì tính an toàn.

Khi đã dẫn đến triệu chứng nặng hơn hay đã có biến chứng, bệnh nhân bắt buộc phải nhờ đến sự can thiệp ngoại khoa như liệu pháp tiêm sơ, hủy tĩnh mạch bằng sóng cao tần, thậm chí phải phẫu thuật.

Bình luận